Ủ phân hữu cơ tại trại sâm là gom lá, cành nhỏ, cỏ, phân chuồng sạch rồi để vi sinh vật phân giải trong một đống được giữ ẩm và đảo đều, tới khi thành chất nâu đen, tơi, mùi đất, không còn nóng và không còn nhận ra nguyên liệu. Với sâm, phân chỉ được dùng khi đã hoai kỹ: phân tươi hoặc ủ dở có thể làm cháy rễ, kéo nấm bệnh và tuyến trùng vào luống.
Nhiều trại mua phân hữu cơ đóng bao, nhưng tự ủ có lợi thế riêng: biết chính xác nguyên liệu đi vào, kiểm soát được độ hoai, và ghi được nguồn gốc cho hồ sơ lô. Ở vùng núi cao, ủ phân cũng chậm hơn và khó hơn dưới xuôi vì lạnh và mưa nhiều. Bài này đi từ chọn chỗ đặt khu ủ, chọn nguyên liệu, các bước ủ, cách thử phân đã hoai, tới những lưu ý riêng cho khí hậu núi cao. Liều bón cụ thể cho từng lô không thuộc phạm vi bài; nên theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông.
Vì sao trại sâm nên tự ủ phân
Cây sâm sống nhiều năm trên một chỗ, và thứ gì rải lên luống sẽ ở lại trong đất cùng củ suốt chu kỳ. Phân không rõ nguồn có thể mang theo hạt cỏ, mầm bệnh, hoặc tồn dư những thứ không mong muốn. Khi trại tự ủ, mọi nguyên liệu đi qua tay người của trại, được ghi lại, và chỉ đem rải khi đã đạt độ hoai mà trại tự kiểm.
Lý do thứ hai là hồ sơ. Các chuẩn thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu, như GACP, đòi hỏi ghi chép đầu vào phân bón. Một sổ ủ phân ghi ngày lập đống, nguyên liệu, ngày đảo, ngày dùng và lô nhận phân là bằng chứng rõ ràng hơn nhiều so với một hoá đơn mua phân không ghi thành phần.
Lý do thứ ba là vận chuyển. Đường lên trại sâm thường dốc, lầy về mùa mưa. Mỗi bao phân chở từ xa lên là một công vác. Lá rụng, cành tỉa, cỏ làm ra trong trại, cộng với phân của trâu bò, dê ở bản gần đó, là nguồn nguyên liệu tại chỗ. Đổi lại, tự ủ cần công và cần kỷ luật: một đống ủ bị bỏ mặc mấy tháng mưa dễ thành một đống ủng thối, không dùng được.
Nguyên liệu dùng được và nên tránh
Một đống ủ tốt cần cân bằng giữa nhóm “nâu” giàu carbon, khô, phân giải chậm và nhóm “xanh” giàu đạm, ướt, phân giải nhanh. Bảng dưới gợi ý các nguyên liệu thường có ở vùng núi.
| Nguyên liệu | Nhóm | Ghi chú khi dùng ở trại sâm |
|---|---|---|
| Lá rụng, cành nhỏ băm vụn | Nâu | Nguồn chính, chỉ lấy ở khu được phép thu dọn, không lấy lá cây bệnh |
| Rơm, thân ngô khô, vỏ trấu | Nâu | Giúp đống thoáng, nên băm hoặc cắt ngắn |
| Cỏ làm từ lối đi, ven trại | Xanh | Tránh cỏ đã ra hạt, hoặc phải ủ thật nóng |
| Phân trâu, bò, dê | Xanh | Lấy nguồn sạch, không lẫn rác, phải ủ hoai hẳn mới dùng |
| Tro bếp | Phụ gia | Dùng rất ít, vì làm thay đổi độ chua của phân |
| Thân lá sâm có dấu hiệu bệnh | Không dùng | Mang ra khu tiêu huỷ riêng, không cho vào đống ủ chung |
| Rác nhựa, thức ăn thừa có dầu mỡ, xác động vật | Không dùng | Gây mùi, thu hút chuột, nhím và chó hoang |
| Phân người, phân chó mèo | Không dùng | Rủi ro mầm bệnh cho người và không hợp chuẩn dược liệu |
Tỷ lệ phối thường được khuyên là nhiều phần nâu hơn phần xanh theo thể tích, nhưng không cần cân đo chính xác. Đống quá nhiều xanh thì nhão, bốc mùi; quá nhiều nâu thì khô và không nóng lên. Người ủ điều chỉnh dần theo mùi và độ ẩm của đống.
Đặt khu ủ ở đâu trong trại
Vị trí khu ủ ảnh hưởng tới cả chất lượng phân lẫn vệ sinh của trại. Khi chọn chỗ, nên xét các điểm sau:
- Ở phía dưới dốc so với các lô trồng, để nước rỉ từ đống ủ không chảy ngược vào luống sâm.
- Cách xa nguồn nước sinh hoạt và suối lấy nước tưới, tránh nước rỉ chảy vào nguồn.
- Có mái che mưa bằng lá, tấm lợp hoặc bạt. Ở vùng mưa nhiều, đống không che sẽ ướt sũng, lạnh và ủng.
- Nền hơi dốc, có rãnh thu nước rỉ để không đọng nước dưới chân đống.
- Gần lối vận chuyển chính để đưa nguyên liệu vào và phân ra lô bớt công vác.
- Tách khỏi khu tiêu huỷ cây bệnh, không dùng chung dụng cụ giữa hai khu.
- Có rào thấp nếu trại có trâu bò thả rông hay chó đi qua bới.
Trại lớn thường làm hai, ba ô ủ cạnh nhau: một ô đang nhận nguyên liệu, một ô đang ủ nóng, một ô đang chín. Cách xoay vòng này giúp lúc nào cũng có phân sắp dùng được, và mỗi ô mang một mã riêng trong sổ ủ phân, không trộn lẫn đợt cũ với đợt mới.
Các bước ủ một đống phân
Quy trình dưới đây là cách ủ đống nóng phổ biến, điều chỉnh cho điều kiện trại núi cao. Thời gian từng bước chỉ để tham khảo:
- Băm hoặc cắt nhỏ nguyên liệu. Mảnh càng nhỏ, vi sinh vật phân giải càng nhanh; cành to để nguyên sẽ nằm đó cả năm.
- Lót đáy bằng một lớp cành nhỏ, thân ngô để đống thoáng khí từ dưới.
- Xếp xen từng lớp nâu và xanh, mỗi lớp vừa phải, tưới ẩm từng lớp. Nếu dùng chế phẩm vi sinh hỗ trợ ủ phân, rắc theo hướng dẫn trên nhãn sản phẩm.
- Kiểm độ ẩm bằng cách bóp một nắm: vắt thấy rịn vài giọt là vừa; chảy thành dòng là quá ướt, cần trộn thêm nguyên liệu nâu khô.
- Che đống, để vài ngày tới vài tuần cho đống nóng lên. Thọc tay hoặc một thanh sắt vào lõi đống để cảm nhận nhiệt.
- Đảo đống khi lõi bắt đầu nguội: đưa phần ngoài vào trong, phần trong ra ngoài, bổ sung nước nếu khô.
- Lặp lại việc đảo vài lần cho tới khi đống không còn nóng lên sau khi đảo.
- Để đống ủ chín thêm một thời gian nữa dưới mái che, rồi mới thử độ hoai.
Ở vùng núi cao, cả quá trình thường kéo dài nhiều tháng. Trại nên lập đống từ mùa cây ngủ năm trước để có phân dùng vào quãng lá đã xoè năm sau, thay vì lập đống khi đã cần dùng.
Cách biết phân đã hoai trước khi rải
Không còn nóng. Đảo đống xong vài ngày mà lõi vẫn mát là dấu hiệu quá trình phân giải mạnh đã qua. Đống vẫn ấm lên sau đảo là chưa xong.
Mùi đất rừng. Phân hoai có mùi giống đất mùn sau mưa. Mùi khai, mùi chua hay mùi thối là phân chưa hoai hoặc bị ủng.
Màu và kết cấu. Phân hoai nâu sẫm tới đen, tơi, vụn, gần như không còn nhận ra lá hay phân chuồng ban đầu. Một vài mẩu cành cứng có thể sàng bỏ.
Phép thử nảy mầm. Trộn một ít phân với đất, gieo vài hạt rau dễ mọc như cải, đặt cạnh một khay chỉ có đất. Nếu khay có phân mọc kém hơn hẳn hoặc mầm vàng úa, phân chưa đủ an toàn cho rễ non của sâm.
Ghi kết quả. Ghi ngày thử, kết quả và mã đống ủ vào sổ. Khi phân được rải lên lô nào, ghi mã đống ủ vào hồ sơ lô đó.
Sàng, cất giữ và đưa phân đã hoai lên lô
Phân đạt độ hoai chưa phải là phân dùng ngay được. Trước khi mang lên lô, nên sàng qua một tấm lưới mắt vừa để loại cành cứng, đá, mẩu nhựa lẫn vào. Phần còn lại trên sàng đưa trở lại đống ủ mới làm “men” cho đợt sau. Phân sau sàng tơi, đều hạt, rải mỏng trên mặt luống dễ hơn và không đè lên mầm.
Nếu chưa dùng ngay, phân cần được cất nơi có mái, khô thoáng, không để mưa dội vào làm trôi chất và cũng không để phơi nắng gắt làm khô kiệt. Đống phân cất giữ nên đậy kín bề mặt để hạt cỏ không bay vào. Mỗi đống hoặc mỗi bao cất giữ mang mã của đống ủ gốc, để khi rải lên lô nào thì truy lại được.
Đưa phân lên lô nên chọn ngày khô ráo, đi trên lối đã định, dùng gùi hoặc bao vừa sức người mang. Không đổ phân thành đống trên luống rồi mới san, vì chỗ đổ sẽ dày, nén mầm và giữ ẩm quá mức. Lượng rải, thời điểm rải theo kế hoạch bón của lô và hướng dẫn kỹ thuật; bài này chỉ dừng ở chỗ đưa được phân sạch, đã hoai tới đúng lô.
Những lỗi hay gặp khi ủ phân ở trại
Phần lớn đống ủ hỏng không phải vì nguyên liệu kém mà vì một vài sơ suất lặp đi lặp lại:
- Đống quá nhỏ, nằm phơi giữa trời lạnh, không bao giờ nóng lên, sau nhiều tháng vẫn là lá nguyên hình.
- Đống không có mái che, mùa mưa ngấm sũng, chuyển sang mùi thối và chảy nước đen xuống dốc.
- Không đảo, để nguyên một khối nén chặt; lõi thiếu khí trong khi lớp ngoài khô.
- Cho cành to, thân gỗ nguyên khúc vào đống, làm đống rỗng và lâu hoai.
- Lấy phân ở giữa đống đem dùng sớm vì thấy “có vẻ đen”, trong khi phần trong chưa qua phép thử độ hoai.
- Dùng chung cuốc, xẻng giữa khu ủ, khu tiêu huỷ cây bệnh và lô trồng mà không rửa.
- Không ghi sổ, tới lúc cần chứng minh đầu vào phân bón thì không ai nhớ đống nào ủ từ gì.
Lưu ý riêng khi ủ phân ở vùng núi cao
Nhiệt độ thấp làm vi sinh vật hoạt động chậm. Đống ủ nhỏ ở vùng lạnh có thể không bao giờ nóng lên đủ. Vì vậy đống nên đủ lớn, được che kín mái, và quây vách bằng tre, phên hoặc bao tải để giữ nhiệt. Mùa lạnh có sương muối, đống ủ gần như ngưng; đây là lúc tích nguyên liệu, chưa phải lúc trông chờ ra phân.
Mưa kéo dài là mối lo thứ hai. Đống ủ ngấm nước quá mức sẽ thiếu khí, chuyển sang phân giải yếm khí, sinh mùi và mất chất. Mái che và rãnh thoát dưới chân đống không phải tuỳ chọn ở vùng núi. Nếu đống đã sũng nước, cần trộn thêm nhiều nguyên liệu khô và đảo kỹ để cứu.
Cuối cùng là con vật. Đống ủ có phân chuồng và thức ăn thừa dễ kéo chuột, nhím, lợn rừng tới, rồi chúng đi tiếp sang luống sâm. Không cho thức ăn thừa có dầu mỡ, đậy kín bề mặt và đặt khu ủ ngoài vành rào của khu trồng là cách giảm rủi ro này.
Câu hỏi thường gặp
Có dùng phân chuồng tươi bón trực tiếp cho sâm được không?
Không nên. Phân tươi có thể làm cháy rễ, mang mầm bệnh, hạt cỏ và thu hút côn trùng, con vật tới luống. Phân chuồng chỉ dùng cho sâm sau khi đã ủ hoai kỹ và qua phép thử độ hoai.
Ủ phân ở vùng núi cao mất bao lâu?
Thường lâu hơn dưới đồng bằng vì lạnh và mưa, có thể kéo dài nhiều tháng tuỳ nguyên liệu, độ lớn đống và số lần đảo. Cách chắc nhất là không dựa vào số ngày mà dựa vào dấu hiệu hoai: không nóng, mùi đất, tơi, qua phép thử nảy mầm.
Có nên cho lá sâm bị bệnh vào đống ủ không?
Không nên cho vào đống ủ chung. Đống ủ ở vùng lạnh khó đạt nhiệt độ đủ để diệt chắc chắn mầm bệnh. Thân lá cây bệnh nên mang ra khu tiêu huỷ riêng, xa khu trồng, theo hướng dẫn của cán bộ bảo vệ thực vật.
Có cần dùng chế phẩm vi sinh khi ủ phân cho sâm không?
Không bắt buộc. Chế phẩm vi sinh hỗ trợ ủ có thể giúp đống phân giải nhanh hơn, nhất là khi nguyên liệu nghèo vi sinh. Nếu dùng, chọn sản phẩm được phép lưu hành, làm theo nhãn và ghi tên, ngày dùng vào sổ ủ phân.
Mua phân hữu cơ đóng bao có dùng cho sâm được không?
Có thể dùng nếu sản phẩm rõ nguồn gốc, được phép lưu hành và ghi thành phần. Nên giữ nhãn, hoá đơn trong hồ sơ, thử nảy mầm với một ít trước khi dùng trên diện rộng, và ghi lô nào đã nhận phân từ bao nào.
Sổ ủ phân cần ghi những gì?
Mã đống ủ, ngày lập, nguyên liệu và nguồn lấy, chế phẩm nếu có, các ngày đảo, ngày thử độ hoai và kết quả, ngày đem dùng và lô nhận phân. Sổ này nối với hồ sơ lô để chứng minh đầu vào phân bón khi cần.