Nguồn nước cho trại sâm vùng núi thường là một nhánh suối đầu nguồn hoặc một mạch nước rỉ nằm cao hơn khu trồng, được dẫn về bằng ống tự chảy qua một bể lắng; nguồn đạt yêu cầu là nguồn vẫn còn đủ nước vào tháng cạn nhất, sạch, không chảy qua khu chăn thả hay ruộng phun thuốc, và không lấy mất phần nước của bản làng phía dưới.
Nhiều trại chỉ nghĩ tới nước khi gặp đợt khô đầu tiên, lúc đó dòng suối đã nhỏ đi và đường ống tạm bợ bị tắc liên tục. Bài này đi qua trại cần nước cho những việc gì, các loại nguồn thường gặp, cách đánh giá lưu lượng trong mùa cạn, cách làm đầu mối và dẫn ống, bể lắng, chất lượng nước, và chuyện chia nước với cộng đồng. Kỹ thuật tưới trên luống có bài riêng; ở đây chỉ bàn tới chỗ nước vào được tới đầu trại.
Trại sâm cần nước cho những việc gì
Tưới trong mùa khô là việc dùng nhiều nước nhất, nhưng không phải việc duy nhất. Vườn ươm cần nước đều đặn hơn mọi lô khác, vì cây con không chịu nổi vài ngày khô. Lán trại cần nước sinh hoạt cho người trực. Dụng cụ cần được rửa giữa các lô để không mang đất bệnh đi; chỗ khử trùng giày dép ở cổng khu trồng cũng cần nước thay thường xuyên. Mùa hanh khô, một bồn nước dự trữ gần lán còn là phương tiện phòng cháy đầu tiên.
Liệt kê đủ các nhu cầu này giúp tính đúng trại cần bao nhiêu nước và cần vào lúc nào. Điều đáng chú ý là các nhu cầu cùng dồn vào mùa khô, đúng lúc dòng suối nhỏ nhất. Vì vậy câu hỏi quyết định không phải “suối có nước không” mà là “vào tuần khô nhất, suối còn đủ cho tất cả các việc này không, sau khi đã chừa phần cho bản phía dưới”.
Trại cũng nên tách nước sinh hoạt khỏi nước tưới khi có thể. Nước cho người dùng cần sạch hơn, có thể cần lọc và đun sôi; nước tưới không cần xử lý tới mức đó nhưng phải không ô nhiễm. Hai đường riêng giúp không vì thiếu nước tưới mà người trực phải dùng nước chưa xử lý, hoặc ngược lại.
Các loại nguồn nước thường gặp ở trại sâm vùng núi
Mỗi nguồn có điểm mạnh và điểm yếu riêng. Nhiều trại dùng kết hợp hai nguồn để có dự phòng.
| Nguồn | Điểm mạnh | Điểm yếu | Cần lưu ý |
|---|---|---|---|
| Nhánh suối đầu nguồn | Nước nhiều, thường sạch nếu phía trên là rừng | Lưu lượng giảm mạnh mùa khô, đầu mối hay bị lũ phá | Kiểm phía trên có chăn thả, khu dân cư hay không |
| Mạch nước rỉ | Ổn định hơn suối nhỏ, ít cát | Lưu lượng nhỏ, dễ mất khi đất quanh mạch bị xáo trộn | Bảo vệ thảm cây quanh mạch, không đào mở rộng tuỳ tiện |
| Nước mưa hứng từ mái | Sạch, không phụ thuộc suối | Chỉ có vào mùa mưa, cần bể lớn để dùng sang mùa khô | Máng và bể phải có nắp, vệ sinh định kỳ |
| Ao, hồ chứa nhỏ | Dự trữ được lượng lớn | Nước tù, dễ có rêu, tảo; tốn đất; nguy cơ vỡ bờ trên dốc | Chỉ làm khi có thiết kế, hỏi kỹ thuật viên thuỷ lợi |
| Giếng khoan | Không phụ thuộc mùa | Hiếm khả thi ở núi cao, cần điện để bơm | Phải có thủ tục theo quy định về tài nguyên nước |
Việc khai thác nước, nhất là khoan giếng hay làm hồ chứa, có thể thuộc diện phải đăng ký hoặc xin phép theo quy định về tài nguyên nước tuỳ quy mô. Trước khi đầu tư, nên hỏi chính quyền xã và kiểm văn bản hiện hành.
Đánh giá một nguồn trong mùa cạn
Cách đánh giá đơn giản và đáng tin nhất là đo trực tiếp vào thời điểm khô nhất trong năm, lý tưởng là qua hai mùa khô:
- Hỏi người trong bản về dòng suối: những năm hạn nhất nó còn chảy không, cạn tới đâu, có năm nào ngưng hẳn.
- Vào tuần khô nhất, chọn một chỗ dòng chảy dồn qua khe hẹp hoặc đặt tạm một đoạn ống hứng toàn bộ dòng.
- Dùng một cái xô biết dung tích và một chiếc đồng hồ, đo số giây để xô đầy. Đo vài lần, lấy giá trị nhỏ nhất.
- Quy ra lượng nước mỗi ngày, rồi trừ đi phần phải chừa lại cho dòng suối và cho người dùng phía dưới.
- So phần còn lại với nhu cầu trại đã liệt kê. Nếu không đủ, cần thêm bể chứa nước mưa hoặc nguồn thứ hai.
- Ghi kết quả, ngày đo và người đo vào hồ sơ trại; đo lại mỗi năm vì dòng suối thay đổi theo tình trạng rừng phía trên.
Ví dụ giả định: dòng suối tuần khô nhất làm đầy một xô trong một khoảng thời gian nhất định, quy ra được một lượng mỗi ngày; sau khi chừa một nửa cho dòng chảy và bản phía dưới, phần còn lại chỉ đủ cho vườn ươm và nước sinh hoạt. Trại quyết định làm thêm bể hứng nước mưa từ mái lán để dành cho tưới bù các lô lớn.
Làm đầu mối và dẫn ống tự chảy
Đặt đầu mối cao hơn khu dùng. Nước tự chảy cần chênh cao giữa đầu mối và chỗ dùng. Chênh cao càng lớn, áp lực ở cuối ống càng mạnh. Hệ phun sương thường cần áp lực ổn định, nên đầu mối cần đủ cao hoặc phải có thêm bể điều áp, máy bơm.
Làm hố thu nhỏ có lưới chắn. Xếp đá tạo một hố nhỏ ở dòng suối, đặt miệng ống ngập trong hố, có lưới chắn lá và cát. Không đắp đập chắn ngang toàn bộ dòng suối.
Đi ống men theo địa hình, tránh đường lũ. Ống nên đi theo đường ít bị đá lăn và lũ quét, chôn nông hoặc phủ lá ở đoạn qua lối người đi để tránh vấp, giảm nắng làm giòn ống.
Có van xả cặn và xả khí. Ở chỗ thấp nhất của tuyến ống, cặn và cát dồn lại; ở chỗ cao nhất, bọt khí tích lại làm nước chảy yếu. Một van xả ở mỗi chỗ giúp tuyến ống chạy ổn định.
Che chắn chỗ con vật hay cắn. Chuột, nhím, có khi cả trâu bò làm hỏng ống. Đoạn ống ở gần lán hoặc đi qua bãi chăn thả cần được chôn hoặc bọc.
Bể lắng và bể chứa
Nước suối, nhất là sau mưa, mang theo cát, đất và lá mục. Đưa thẳng nước này vào hệ phun sương hay ống nhỏ giọt thì béc tắc chỉ sau vài ngày. Một bể lắng đặt ngay sau đầu mối, để nước đi chậm lại cho cát chìm xuống, rồi mới chảy tiếp qua lưới lọc vào đường ống chính, là phần đơn giản nhưng quan trọng nhất của hệ thống.
Bể chứa có vai trò khác: dự trữ. Bể đủ lớn cho phép tích nước trong đêm khi không ai dùng, để buổi sáng tưới với lượng lớn hơn lưu lượng suối. Bể cũng là chỗ dự phòng khi đầu mối bị lũ phá hay ống bị cắn. Bể nên có nắp đậy để tránh lá rơi, rêu tảo và muỗi; có ống tràn dẫn nước thừa về lại suối hoặc ra chỗ an toàn, không để tràn xuống luống.
Vét bể lắng là việc định kỳ, nhiều hơn trong mùa mưa. Cặn vét ra là đất mịn, có thể đưa về chỗ cần bồi. Ở vùng có mùa đông giá như Lai Châu, đường ống lộ thiên và bể nông có thể gặp những đêm rất lạnh; ống nên được che phủ và xả bớt nước ở đoạn lộ trong những đợt rét đậm.
Giữ nước sạch cho trại sâm
Nước tưới đi thẳng vào đất và lên lá cây dược liệu, nên chất lượng nước là một phần của chất lượng củ. Một vài điểm cần kiểm:
- Đi ngược dòng suối từ đầu mối lên trên một đoạn để biết phía trên có bãi chăn thả, chuồng trại, khu dân cư hay ruộng nương phun thuốc không.
- Nếu có, chuyển đầu mối lên cao hơn các nguồn ô nhiễm đó, hoặc tìm nguồn khác.
- Không để chuồng trại, nhà vệ sinh của chính trại nằm phía trên đầu mối hoặc gần bể chứa.
- Không rửa bình phun, dụng cụ dính thuốc bảo vệ thực vật ở suối hay gần bể.
- Khi trại theo GACP hoặc có nghi ngờ, gửi mẫu nước tưới kiểm nghiệm ở phòng thử nghiệm có năng lực theo các chỉ tiêu được hướng dẫn.
- Ghi nguồn nước, vị trí đầu mối, ngày vệ sinh bể và kết quả kiểm nghiệm (nếu có) vào hồ sơ trại.
Giữ đầu mối và tuyến ống qua mùa mưa lũ
Nghịch lý của trại vùng núi là nước nhiều nhất cũng là lúc hệ thống nước dễ hỏng nhất. Lũ trên suối nhỏ lên rất nhanh sau mưa lớn, cuốn đá, cành cây và có thể phá hố thu, bứt ống ra khỏi chỗ neo, lấp đầy bể lắng bằng cát chỉ trong một đêm. Ống đi sát lòng suối hoặc vắt qua khe là những đoạn hay mất nhất.
Trước mùa mưa, nên neo chắc miệng ống bằng đá xếp, chuẩn bị sẵn một đoạn ống dự phòng và vài khớp nối ở lán, đánh dấu vị trí các van xả để người trực tìm được nhanh. Có trại tháo hẳn đoạn ống qua lòng suối trong những tuần mưa lớn nhất, vì lúc đó trại gần như không cần tưới.
Việc đi sửa đầu mối sau lũ chỉ làm khi nước đã rút và đường an toàn. Không lội suối đang lên để cứu một đoạn ống; ống có thể mua lại, người thì không. Sau khi sửa, xả rửa đường ống và vét bể lắng trước khi cho nước vào hệ thống tưới, tránh đẩy bùn cát vào béc phun.
Chia nước với bản làng và giữ rừng đầu nguồn
Ở vùng núi, một dòng suối thường nuôi nhiều hộ, ruộng nước và cả đời sống của bản phía dưới. Trại sâm lấy nước từ đó cần làm việc với trưởng bản, với chính quyền xã và với những hộ đang dùng chung, thống nhất trại lấy ở đâu, lấy bao nhiêu và chừa lại bao nhiêu cho mùa khô. Một thoả thuận rõ ràng ngay từ đầu tránh được nhiều mâu thuẫn về sau, nhất là trong những năm hạn.
Nguyên tắc thực tế là không lấy hết dòng chảy, không làm đập chặn ngang suối, và khi nước ít thì ưu tiên nước sinh hoạt cho người trước cây. Trại có thể góp công cùng bản bảo vệ và sửa đường dẫn nước chung, đó cũng là cách xây quan hệ tốt với người tại chỗ, những người sẽ ở cạnh trại suốt nhiều năm.
Cuối cùng, nguồn nước sống được là nhờ rừng đầu nguồn. Chặt cây, phát dọn quanh mạch nước hay đầu suối để làm lối đi, làm lán, là tự cắt nguồn nước của chính trại sau vài năm. Giữ thảm rừng phía trên đầu mối là cách giữ nước rẻ nhất và lâu dài nhất.
Câu hỏi thường gặp
Trại sâm nên lấy nước suối hay hứng nước mưa?
Phần lớn trại dùng nước suối làm nguồn chính vì lượng lớn, và hứng nước mưa từ mái lán vào bể làm nguồn phụ. Khi suối cạn mạnh trong mùa khô, bể nước mưa là dự phòng cho vườn ươm và nước sinh hoạt.
Làm sao biết dòng suối có đủ nước cho trại vào mùa khô?
Đo trực tiếp vào tuần khô nhất bằng xô biết dung tích và đồng hồ, quy ra lượng mỗi ngày, trừ phần chừa cho dòng chảy và người dùng phía dưới, rồi so với nhu cầu của trại. Hỏi thêm người trong bản về những năm hạn nhất.
Có cần xin phép khi lấy nước suối cho trại không?
Tuỳ quy mô và hình thức khai thác, việc lấy nước có thể phải đăng ký hoặc xin phép theo quy định về tài nguyên nước. Với trại nhỏ dùng ống tự chảy, vẫn nên báo và thống nhất với chính quyền xã, trưởng bản. Nên kiểm văn bản hiện hành trước khi làm công trình lớn.
Vì sao béc phun sương ở trại sâm hay bị tắc?
Thường do nước suối mang cát, lá mục mà hệ thống thiếu bể lắng và lưới lọc. Làm bể lắng sau đầu mối, đặt lưới lọc trước đường ống chính, vét bể và rửa lưới định kỳ sẽ giảm tắc rõ rệt.
Nước suối chảy qua bãi chăn thả có dùng tưới sâm được không?
Nên tránh. Nước có thể mang phân và mầm bệnh của gia súc vào luống. Tốt nhất chuyển đầu mối lên phía trên bãi chăn thả hoặc tìm nguồn khác, và nếu nghi ngờ thì gửi mẫu kiểm nghiệm.
Mùa mưa có cần lo gì cho đầu mối nước không?
Có. Lũ có thể phá hố thu, cuốn ống và lấp bể lắng. Trước mùa mưa nên kiểm và gia cố đầu mối, đặt ống tránh đường lũ, và sau mỗi trận mưa lớn đi kiểm lại khi đường đã an toàn.