Giá thể trồng sâm trong nhà lưới là hỗn hợp được phối để thay hoặc bổ sung cho đất tại chỗ, thường gồm một phần đất mùn sạch, một phần vật liệu giữ ẩm như xơ dừa đã xử lý, một phần vật liệu tạo thoáng như trấu hoặc vật liệu khoáng nhẹ, cộng phân hữu cơ đã hoai; hỗn hợp đạt yêu cầu khi tơi, thoát nước nhanh, vẫn giữ ẩm đều và không mang mầm bệnh.
Nhà lưới thường được dựng ở nơi đất tại chỗ không giống đất mùn rừng: đất nương cũ, đất đồi đã bạc màu, hoặc ở những vùng trồng thử ngoài vùng lõi. Khi đó giá thể là cách tạo ra môi trường rễ gần với điều cây sâm cần. Bài này mô tả các thành phần thường dùng, tính chất cần đạt, cách xử lý nguyên liệu, kiểu luống nâng hay thùng, chăm sóc trên giá thể khác đất rừng ra sao, và khi nào phải thay. Tỷ lệ phối cụ thể không có công thức chung; nên thử nhỏ và hỏi kỹ thuật viên có kinh nghiệm với sâm trong nhà lưới.
Khi nào trại cần tới giá thể
Dưới tán rừng có tầng mùn tốt, người làm trại hầu như không cần giá thể; đất tại chỗ, được giữ bằng lớp phủ và phân ủ, đã đủ. Giá thể trở nên cần thiết khi đất tại chỗ có một trong các vấn đề: quá nặng và dính, giữ nước lâu; tầng mùn quá mỏng hoặc đã mất do canh tác nương rẫy nhiều năm; đất từng trồng cây khác có lịch sử bệnh rễ; hoặc đất có độ chua quá xa mức phù hợp mà cải tạo mất nhiều năm.
Ở nhà lưới, giá thể còn giải quyết một bài toán vận hành: đồng đều. Khi mọi luống cùng một hỗn hợp, người làm trại dễ so sánh, dễ điều chỉnh tưới và bón, dễ nhận ra luống nào có vấn đề do cây hay do môi trường. Điều này đặc biệt có ích cho trại mới, chưa có nhiều năm kinh nghiệm với khu đất của mình.
Đổi lại, giá thể tốn công và tiền, phải vận chuyển, và sau một chu kỳ dài sẽ nghèo đi hoặc bị nén. Nó cũng không biến một vùng khí hậu không hợp thành vùng trồng được sâm. Giá thể chỉ sửa phần dưới chân cây; nhiệt độ, độ ẩm không khí và độ cao vẫn là điều kiện quyết định.
Các thành phần thường dùng khi phối giá thể
Mỗi thành phần đóng một vai trò. Tỷ lệ phối tuỳ nguồn nguyên liệu và điều kiện từng nhà lưới; bảng chỉ mô tả vai trò và lưu ý.
| Thành phần | Vai trò chính | Lưu ý khi dùng |
|---|---|---|
| Đất mùn sạch, đất mặt tơi | Tạo nền khoáng, giữ dinh dưỡng, chứa sinh vật đất | Lấy từ nguồn hợp lệ, không có lịch sử bệnh rễ, không lấy mùn rừng tự nhiên |
| Xơ dừa, mụn dừa | Giữ ẩm, làm hỗn hợp nhẹ và tơi | Phải xả chát, xả muối kỹ trước khi dùng |
| Trấu, trấu hun | Tạo khe thoáng, giúp thoát nước | Trấu sống phân huỷ chậm, có thể mang hạt lúa; trấu hun cần để nguội và rửa bớt tro |
| Phân hữu cơ hoai | Cung cấp dinh dưỡng chậm, nuôi vi sinh vật | Chỉ dùng loại đã hoai hẳn, qua phép thử nảy mầm |
| Cát thô, sỏi nhỏ | Tăng thoát nước cho hỗn hợp nặng | Không dùng cát mịn vì lấp khe hở; cát biển mặn không dùng |
| Vật liệu khoáng nhẹ (đá trân châu, đá bọt) | Thoáng khí bền lâu, không phân huỷ | Có chi phí, nên dùng cho vườn ươm hoặc luống giá trị cao |
Không nên chỉ dùng một thành phần. Xơ dừa đơn thuần giữ nước quá nhiều; trấu đơn thuần khô nhanh và nghèo; đất đơn thuần lại có thể nặng. Phối nhiều thành phần là để cân bằng giữa giữ ẩm và thoát nước.
Giá thể tốt cho sâm cần đạt những gì
Tơi và thoáng. Bóp một nắm giá thể ẩm rồi buông ra, nó vón nhẹ rồi tơi ra. Rễ và thân rễ sâm cần khe hở chứa không khí.
Thoát nước nhanh. Tưới đẫm một chậu thử, nước phải chảy ra đáy nhanh chóng, không đọng trên mặt.
Giữ ẩm đều. Sau một, hai ngày không tưới, lớp giá thể vùng rễ vẫn còn mát tay, không khô rời như cát.
Sạch bệnh, sạch hạt cỏ. Đây là ưu điểm lớn nhất của giá thể so với đất tại chỗ. Nguyên liệu bẩn sẽ xoá mất ưu điểm này.
Độ chua phù hợp. Đo độ chua của hỗn hợp sau khi phối, so với khuyến cáo cho sâm, điều chỉnh bằng cách đổi tỷ lệ thành phần trước khi nghĩ tới bón vôi.
Ổn định nhiều năm. Sâm ở yên một chỗ nhiều năm, nên hỗn hợp không được xẹp, nén chặt nhanh. Thành phần bền như trấu hun, vật liệu khoáng nhẹ giúp giữ cấu trúc lâu hơn.
Xử lý nguyên liệu và phối giá thể
Chất lượng giá thể phụ thuộc phần lớn vào bước xử lý trước khi trộn. Trình tự gợi ý:
- Ngâm và xả xơ dừa nhiều lần cho tới khi nước xả trong, không còn màu nâu đỏ đậm, để loại chát và muối.
- Kiểm phân hữu cơ đã hoai hẳn bằng mùi, màu và phép thử nảy mầm với hạt rau.
- Sàng đất mùn, loại rễ cây, đá lớn, mảnh rác; không dùng đất có lịch sử bệnh rễ.
- Xử lý giảm mầm bệnh cho nguyên liệu nghi ngờ theo nguyên tắc đơn giản như ủ nóng, phơi nắng mỏng; nếu dùng chế phẩm vi sinh đối kháng, theo nhãn và hướng dẫn kỹ thuật.
- Trộn trên nền sạch, có mái che, theo tỷ lệ đã thử, đảo đều tới khi màu đồng nhất.
- Làm ẩm vừa phải khi trộn, để hỗn hợp nghỉ vài ngày trước khi trồng.
- Đo độ chua của mẫu đã trộn, ghi lại tỷ lệ, nguồn nguyên liệu và ngày phối thành một mã mẻ giá thể.
Mỗi mẻ giá thể nên có mã riêng gắn với luống được đổ vào. Khi một luống có vấn đề, mã mẻ giúp lần lại nguyên liệu và kiểm các luống khác dùng chung mẻ đó.
Luống nâng, thùng hay khay
Trong nhà lưới, giá thể thường được đặt trong luống nâng có thành bằng gỗ, tre hoặc gạch, cao hơn mặt đất. Luống nâng giúp nước thoát xuống dưới dễ, giữ giá thể không bị lẫn với đất nền, và giúp người làm không phải cúi quá thấp. Đáy luống nên có lớp thoát nước bằng sỏi hoặc vật liệu thô, và đất nền phía dưới không được đọng nước.
Một số trại dùng thùng hoặc khay đặt trên giá, nhất là cho vườn ươm. Cách này cách ly tốt nhất với đất nền và dễ di chuyển, nhưng giá thể trong thùng khô và nóng nhanh hơn, cần kiểm ẩm thường xuyên hơn. Thùng cũng phải đủ sâu cho thân rễ phát triển nhiều năm; thùng nông chỉ hợp cho cây con.
Dù kiểu nào, khoảng cách giữa các luống, thùng phải đủ cho người đi lại không chạm tán sâm, và lối đi không được thành chỗ đọng nước. Nền nhà lưới nên có rãnh thoát riêng, vì nước tưới thừa và nước mưa xuyên qua lưới đều dồn xuống đó.
Tưới, bón trên giá thể khác đất rừng thế nào
Giá thể có xơ dừa và trấu thường khô nhanh ở lớp mặt nhưng có thể còn ẩm ở dưới, hoặc ngược lại khi đã nén. Vì vậy kiểm ẩm phải bới xuống tới vùng rễ chứ không nhìn mặt. Nhịp tưới trên giá thể thường dày hơn dưới tán rừng nhưng mỗi lần ít hơn, và phải quan sát kỹ trong vài tuần đầu để tìm nhịp phù hợp với hỗn hợp của mình.
Về dinh dưỡng, giá thể không có dòng bồi tự nhiên từ lá rơi, nên phần hữu cơ trong hỗn hợp sẽ cạn dần theo năm. Bổ sung phân ủ hoai mỏng trên mặt và lớp phủ mỗi năm là cần thiết. Tuy nhiên, giá thể nhẹ có khả năng giữ dinh dưỡng kém hơn đất, phân thừa dễ bị rửa trôi hoặc tích lại gây hại rễ; nguyên tắc ít mà đều càng quan trọng.
Một điểm hay bị bỏ qua là sinh vật đất. Giá thể mới trộn có thể nghèo vi sinh vật có lợi so với đất rừng. Phân ủ tốt và lớp phủ hữu cơ giúp dần dần xây lại hệ sinh vật đó. Không nên khử trùng giá thể quá mức tới mức “chết”, vì một môi trường không có vi sinh vật có lợi lại dễ bị mầm bệnh chiếm chỗ.
Những lỗi hay gặp khi làm giá thể cho sâm
Phần lớn luống giá thể hỏng có thể lần ngược về một trong các lỗi dưới đây:
- Dùng xơ dừa chưa xả chát, rễ non bị hại ngay từ những tuần đầu, lá vàng mà không rõ lý do.
- Trộn phân chưa hoai vào giá thể; hỗn hợp nóng lên sau khi đổ luống và làm cháy rễ cây mới trồng.
- Lấy đất từ ruộng, vườn cũ có lịch sử bệnh rễ để tiết kiệm, mang bệnh vào cả nhà lưới.
- Phối quá nhiều vật liệu giữ ẩm, luống luôn ướt, thân rễ thối dần qua mùa mưa.
- Dùng cát mịn thay cát thô, lấp kín khe thoáng, giá thể nén chặt sau một năm.
- Đổ giá thể lên nền nhà lưới đọng nước, không có lớp thoát dưới đáy luống.
- Không ghi tỷ lệ và nguồn nguyên liệu, tới khi một mẻ hỏng thì không biết khác các mẻ tốt ở đâu.
Khi nào phải thay giá thể và có dùng lại được không
Sau nhiều năm, giá thể nén lại, thành phần hữu cơ phân huỷ, khe thoáng giảm, nước đọng lâu hơn. Dấu hiệu cần chú ý là nước tưới thấm chậm, mặt luống đóng váng, cây ở luống đó yếu dần so với luống mới. Ở luống đang có cây sâm nhiều năm tuổi, không thể thay giá thể giữa chừng; chỉ có thể bổ sung lớp phủ và phân ủ trên mặt. Việc thay chỉ làm khi đã thu hoạch hết luống.
Giá thể đã trồng sâm một chu kỳ dài không nên dùng lại ngay để trồng sâm, vì cùng lý do với đất: mầm bệnh và các thay đổi trong môi trường rễ tích tụ qua nhiều năm có thể làm lứa sau yếu. Giá thể cũ có thể ủ lại, dùng cho cây khác ở khu khác của trại hoặc trả về làm đất bồi cho chỗ cần, sau khi đã loại bỏ tàn dư rễ.
Kế hoạch giá thể vì thế nên tính theo chu kỳ của cả trại: mỗi lứa trồng mới cần một lượng giá thể mới hoặc nguyên liệu mới, có nguồn, có kho chứa khô ráo, có thời gian xử lý. Ghi chép mã mẻ giá thể cho từng luống giúp sau này biết luống nào đã dùng bao lâu và cần thay lúc nào.
Câu hỏi thường gặp
Trồng sâm Ngọc Linh trong nhà lưới có cần giá thể không?
Không bắt buộc nếu đất tại chỗ đã tơi, giàu mùn và thoát nước tốt. Giá thể cần khi đất nặng, bạc màu, từng có bệnh rễ hoặc quá chua. Dù có giá thể, khí hậu nơi đặt nhà lưới vẫn phải hợp với sâm.
Xơ dừa có trồng sâm trực tiếp được không?
Không nên dùng xơ dừa đơn thuần. Xơ dừa giữ nước nhiều và nghèo dinh dưỡng, dễ gây úng cho thân rễ. Nó nên là một thành phần trong hỗn hợp cùng đất mùn sạch, vật liệu tạo thoáng và phân ủ hoai, và phải được xả chát kỹ.
Có lấy đất mùn rừng làm giá thể được không?
Không nên. Lấy mùn rừng tự nhiên làm nghèo rừng, có thể trái quy định quản lý rừng và mang mầm bệnh lạ vào nhà lưới. Nên dùng đất mặt sạch từ nguồn hợp lệ cộng với phân ủ và vật liệu hữu cơ tự xử lý.
Giá thể dùng trong bao lâu thì phải thay?
Thường giá thể dùng hết một chu kỳ trồng của luống; không thay giữa chừng khi cây đang lớn. Khi đã thu hoạch hết, không nên trồng sâm lại ngay trên giá thể cũ mà thay mới hoặc chuyển giá thể cũ sang dùng cho cây khác.
Làm sao thử một công thức giá thể trước khi dùng cho cả nhà lưới?
Phối vài mẻ nhỏ theo các tỷ lệ khác nhau, cho vào thùng thử, kiểm thoát nước, giữ ẩm và độ chua, trồng thử một ít cây non và theo dõi ít nhất một mùa. Chọn mẻ cây khoẻ nhất để làm trên diện rộng, ghi lại tỷ lệ và nguồn nguyên liệu.
Trồng sâm trong thùng xốp, chậu ở nhà được không?
Có người thử, nhưng thùng nông khô và nóng nhanh, khí hậu ở nhà thường không hợp với sâm vùng núi cao. Cây có thể sống vài năm nhưng khó phát triển tốt. Sâm trồng như vậy cũng không có hồ sơ vùng trồng như trại.