Một hợp đồng liên kết trồng sâm công bằng với hộ đồng bào hoặc cộng đồng có rừng phải trả lời rõ năm điều: rừng vẫn thuộc về ai, mỗi bên góp gì (rừng, công, giống, vốn, kỹ thuật), sản phẩm chia theo cách nào, rủi ro mất mùa ai chịu, và hợp đồng kết thúc ra sao. Với cộng đồng dân cư là chủ rừng, quyết định liên kết còn phải được thông qua theo quy chế quản lý rừng của cộng đồng, không phải chữ ký của vài người.
Vùng sâm Ngọc Linh là nơi sinh sống lâu đời của người Xơ Đăng, trong đó có nhóm Ca Dong, và nhiều dân tộc khác; vùng sâm Lai Châu có người Mông, Dao, Hà Nhì, Thái và các dân tộc khác. Nhiều khu rừng hợp với sâm do hộ hoặc cộng đồng tại chỗ đang giữ. Bài này viết cho cả hai phía: doanh nghiệp, chủ trại muốn liên kết, và hộ, cộng đồng được mời liên kết, để thoả thuận đứng vững qua nhiều năm của một lứa sâm.
Liên kết khác thuê đất và khác mua bán
Liên kết trồng sâm là quan hệ góp sức cùng làm và cùng chia kết quả. Hộ hay cộng đồng góp quyền sử dụng khu rừng của mình và thường góp thêm công chăm sóc, bảo vệ; bên kia góp giống có hồ sơ, vật tư, kỹ thuật, có khi cả tiền công ứng trước và đầu ra. Rừng không đổi chủ. Khi hợp đồng kết thúc, khu rừng vẫn là của hộ, của cộng đồng như trước.
Điều này khác hẳn với việc "thuê đất" của người dân rồi tự trồng, vốn rất hạn chế với đất rừng giao cho hộ đồng bào theo chính sách, và càng khác với việc "mua lại" rừng, thứ thường vi phạm quy định về chuyển nhượng đất rừng được giao cho hộ dân tộc thiểu số. Những thoả thuận viết tay kiểu "hộ nhận một khoản tiền, giao rừng cho bên kia trồng sâm hai mươi năm" có rủi ro pháp lý cho cả hai phía: bên đầu tư không có quyền vững chắc, còn hộ có thể mất quyền kiểm soát rừng của chính mình.
Liên kết đúng nghĩa cũng khác hợp đồng bao tiêu. Bao tiêu là cam kết mua sản phẩm hộ tự trồng; liên kết là cùng trồng từ đầu. Nhiều thoả thuận ngoài thực tế trộn cả hai, và đó là lúc cần viết thật rõ phần nào là góp chung, phần nào là mua bán.
Mỗi bên thường góp gì và nhận gì
Bảng dưới là một cách phân chia hay gặp, không phải khuôn bắt buộc. Tỷ lệ cụ thể do hai bên thoả thuận; ví dụ số học trong hợp đồng nên ghi "ví dụ giả định" để không ai hiểu nhầm là cam kết.
| Hạng mục | Hộ hoặc cộng đồng | Doanh nghiệp, chủ trại |
|---|---|---|
| Rừng | Quyền sử dụng khu rừng, giữ nguyên quyền chủ rừng | Không có quyền với rừng ngoài phạm vi hợp đồng |
| Công lao động | Chăm sóc, làm cỏ, bảo vệ, tuần tra | Kỹ thuật viên, giám sát, có thể trả công theo ngày |
| Giống | Có thể góp cây mẹ, hạt tự để nếu có hồ sơ | Thường cung cấp giống có nguồn gốc rõ |
| Vật tư | Vật liệu tại chỗ hợp pháp, không lấy từ rừng | Lưới, giàn, ống nước, phân hữu cơ |
| Hồ sơ | Giấy tờ giao rừng, xác nhận cộng đồng | Hồ sơ cơ sở trồng cấy, sổ theo dõi, chứng từ giống |
| Kết quả | Phần sản phẩm hoặc tiền theo tỷ lệ, tiền công nếu có | Phần sản phẩm còn lại, quyền mua phần của hộ nếu thoả thuận |
Điều dễ bị bỏ quên nhất là hồ sơ. Nếu không bên nào chịu trách nhiệm giữ sổ theo dõi cây và làm việc với cơ quan kiểm lâm, đến lúc thu hoạch cả hai bên đều không chứng minh được sâm là sâm trồng.
Với rừng cộng đồng: quyết định phải là của cộng đồng
Cộng đồng dân cư là một chủ rừng. Luật Lâm nghiệp 2017 công nhận cộng đồng dân cư là chủ rừng khi được giao rừng. Cộng đồng quản lý rừng theo quy chế hoặc hương ước được thông qua và thường có tổ bảo vệ rừng, người đại diện. Việc đưa hoạt động trồng sâm vào rừng cộng đồng là chuyện của cả cộng đồng.
Họp làng có biên bản. Nên tổ chức họp với sự tham gia rộng rãi của các hộ, giải thích bằng tiếng dân tộc, có biên bản ghi ý kiến và kết quả biểu quyết theo quy chế. Biên bản này đính kèm hợp đồng. Chữ ký của trưởng thôn hay già làng có giá trị lớn về uy tín, nhưng không tự thay được quyết định chung nếu quy chế đòi hỏi họp.
Chia phần cho quỹ chung. Nhiều cộng đồng muốn một phần kết quả vào quỹ chung để làm đường, sửa nhà văn hoá, hỗ trợ hộ khó khăn. Điều này nên được ghi rõ, kèm cách quản lý quỹ minh bạch, để tránh nghi ngờ về sau.
Tôn trọng tập quán và nơi kiêng. Có những khu rừng cộng đồng giữ vì lý do văn hoá, như rừng đầu nguồn nước của làng hay khu rừng gắn với nghi lễ truyền thống. Hỏi trước và để cộng đồng chỉ ra khu nào không đưa vào trồng, thay vì tự chọn theo độ ẩm và độ tàn che.
Điều khoản bảo vệ hộ và cộng đồng
Bên đầu tư thường có kinh nghiệm hợp đồng hơn. Để thoả thuận bền, những điều khoản dưới đây nên có, và người hỗ trợ hộ nên đặc biệt chú ý:
- Không chuyển giao quyền với rừng: ghi rõ hợp đồng không làm thay đổi quyền chủ rừng của hộ, cộng đồng.
- Chia sản phẩm theo cân tại trại, có mặt đại diện hộ, lập biên bản từng lô; không chia theo con số bên đầu tư tự báo sau khi chở đi.
- Rủi ro thiên tai chia sẻ: lô mất do sạt lở, sương muối có biên bản thì hộ không phải bồi thường giống cho bên đầu tư.
- Tiền công trả định kỳ nếu hộ góp công, không dồn hết vào cuối lứa nhiều năm sau.
- Quyền đơn phương chấm dứt có điều kiện cho hộ khi bên đầu tư bỏ trại, không cung cấp đủ cam kết.
- Xử lý cây khi kết thúc: các lô chưa tới tuổi thu thuộc về ai, ai chăm tiếp.
- Ngôn ngữ: hợp đồng được đọc và giải thích bằng tiếng dân tộc trước khi ký, có người làm chứng.
Hợp đồng công bằng không phải là lòng tốt của bên đầu tư mà là cách giữ trại. Trại sâm nằm sâu trong rừng của cộng đồng; khi cộng đồng thấy mình bị thiệt, không hàng rào nào giữ được trại.
Giống trong liên kết: hạt hộ tự để và giống bên đầu tư mang tới
Nhiều hộ ở vùng sâm đã có vài chục, vài trăm gốc sâm trồng từ trước, tự để hạt hằng năm. Khi bước vào liên kết, câu hỏi đầu tiên là số cây đó tính thế nào: góp vào liên kết như vốn của hộ, hay để riêng ngoài phạm vi hợp đồng. Cả hai cách đều được, miễn là có biên bản kiểm đếm từng lô theo năm trồng ngay khi ký. Không kiểm đếm, vài năm sau không ai còn nhớ cây nào của ai.
Hạt hộ tự để chỉ nên đưa vào liên kết khi chứng minh được cây mẹ là cây trồng có hồ sơ, không phải cây đưa từ rừng tự nhiên về. Với giống bên đầu tư cấp, hộ nên được giữ bản sao chứng từ nguồn giống: tên vườn ươm, số lượng, ngày giao. Khi cơ quan kiểm lâm kiểm tra sổ theo dõi, hộ là người có mặt ở trại, nên hộ cần trả lời được cây trong luống của mình đến từ đâu, không phải chỉ bên đầu tư ở xa mới có giấy.
Khi trong cộng đồng có ý kiến khác nhau
Một cộng đồng không phải một khối thống nhất. Có hộ muốn tham gia liên kết, có hộ không; có người lo trại sâm làm mất lối đi lấy củi, lấy măng truyền thống; có người lo tiền chia không đều. Bỏ qua những tiếng nói này để ký cho nhanh thường là nguồn rắc rối lớn nhất của trại về sau, từ chuyện trâu bò vào phá luống tới chuyện có người chỉ lối cho kẻ trộm.
Cách làm bền là để cộng đồng tự bàn trong buổi họp riêng, không có bên đầu tư ngồi cạnh; chừa lại lối đi và khu khai thác lâm sản phụ truyền thống ngoài khu trồng; cho các hộ không tham gia vẫn được hưởng phần quỹ chung nếu cộng đồng quyết vậy. Bên đầu tư nên chấp nhận rằng khu trồng có thể nhỏ hơn dự tính ban đầu, đổi lại là một trại được cả làng coi là việc chung.
Trình tự lập một liên kết từ đầu
Một liên kết làm vội thường vỡ sau một hai năm. Trình tự sau tốn thời gian hơn nhưng bền:
- Gặp chính quyền xã và cộng đồng để giới thiệu ý định, chưa bàn tỷ lệ chia.
- Cùng đi thực địa với người của cộng đồng, xác định khu rừng phù hợp và khu không được đụng tới.
- Kiểm tra giấy tờ giao rừng, loại rừng; hỏi hạt kiểm lâm phụ trách địa bàn.
- Soạn dự thảo hợp đồng bằng tiếng Việt, đọc giải thích bằng tiếng dân tộc ở buổi họp; để cộng đồng có thời gian bàn riêng.
- Chỉnh sửa theo ý kiến, họp thông qua theo quy chế, lập biên bản.
- Ký hợp đồng, cùng làm biên bản hiện trạng khu rừng, rồi mới đưa giống vào.
- Đăng ký hồ sơ cơ sở trồng cấy với cơ quan kiểm lâm nếu loài thuộc danh mục bảo vệ.
Nếu cộng đồng hoặc hộ cần hỗ trợ đọc hợp đồng, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước của tỉnh là nơi có thể hỏi; dịch vụ này hướng tới người dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn.
Ví dụ giả định: một liên kết ở vùng Nam Trà My cũ
Ví dụ giả định: một doanh nghiệp nhỏ ở Đà Nẵng liên kết với một cộng đồng người Ca Dong ở một xã thuộc vùng Nam Trà My cũ, nay thuộc thành phố Đà Nẵng. Cộng đồng có rừng được giao, đã có tổ bảo vệ rừng. Hai bên thoả thuận doanh nghiệp cấp giống có hồ sơ, lưới che bổ sung, trả công chăm sóc theo tháng cho các hộ tham gia; cộng đồng góp khu rừng và công bảo vệ. Khi thu hoạch, củ cân tại trại, chia theo tỷ lệ ghi trong phụ lục, một phần của cộng đồng vào quỹ chung.
Hai năm sau, một trận mưa lớn làm sạt một lô. Vì hợp đồng đã ghi cách xử lý thiên tai, hai bên lập biên bản với xã, ghi số cây mất, không ai phải bồi thường ai. Ví dụ cho thấy: điều làm liên kết đứng vững không phải tỷ lệ chia cao hay thấp, mà là việc mọi tình huống khó đã được nói trước, bằng ngôn ngữ cả hai bên hiểu.
Câu hỏi thường gặp
Hộ đồng bào có được cho doanh nghiệp thuê đất rừng để trồng sâm không?
Đất rừng giao cho hộ đồng bào theo chính sách thường bị hạn chế chuyển nhượng, cho thuê. Hình thức phù hợp hơn là hợp đồng liên kết, trong đó hộ giữ nguyên quyền với rừng. Trước khi ký, hộ nên hỏi chính quyền xã hoặc trợ giúp pháp lý về các hạn chế hiện hành.
Trưởng thôn ký hợp đồng thay cộng đồng có được không?
Chỉ khi quy chế của cộng đồng cho phép và có biên bản họp uỷ quyền rõ ràng. Nếu không, hợp đồng dễ bị chính cộng đồng phản đối về sau. Bên đầu tư nên yêu cầu biên bản họp đính kèm để tự bảo vệ mình.
Nếu doanh nghiệp bỏ trại giữa chừng thì hộ được gì?
Điều này phải ghi trong hợp đồng: thường hộ được quyền chấm dứt, tiếp tục chăm và hưởng các lô đã trồng, hoặc nhận một khoản bồi thường theo cách tính định trước. Hợp đồng không nói gì thì hộ ở thế yếu, nên cần đưa vào ngay khi ký.
Có nên liên kết với nhiều doanh nghiệp cùng lúc trên một khu rừng không?
Không nên trên cùng một khu. Hai bên cấp giống khác nhau, ghi sổ khác nhau sẽ làm lẫn lô và rất khó chứng minh nguồn gốc. Nếu cộng đồng có nhiều khu rừng, có thể chia khu rõ ranh giới cho từng liên kết, mỗi khu một bộ hồ sơ.
Ai trả tiền làm hồ sơ cơ sở trồng cấy khi liên kết?
Do hai bên thoả thuận, thường bên đầu tư lo vì họ có kinh nghiệm thủ tục. Điều quan trọng là hồ sơ ghi đúng địa điểm thuộc rừng của hộ, cộng đồng, và hộ được giữ một bản. Không nên để bên đầu tư đứng tên theo cách khiến khu rừng như thể thuộc về họ.
Tranh chấp trong liên kết thì giải quyết ở đâu?
Trước hết là thương lượng và hoà giải ở xã, có đại diện cộng đồng. Nếu không xong, có thể nhờ trợ giúp pháp lý hoặc luật sư, và cuối cùng là toà án. Hợp đồng nên ghi sẵn cách giải quyết tranh chấp để hai bên biết đường đi.