Khi chọn khu trồng sâm, hướng dốc quyết định khu nhận nắng lúc nào và gió từ đâu, còn độ dốc quyết định đất có bị xói, nước có thoát tốt và người có đi lại an toàn hay không. Thông thường, sườn khuất nắng chiều mát và giữ ẩm tốt hơn sườn hứng nắng chiều; sườn dốc vừa phải thoát nước tốt mà vẫn làm việc được, còn sườn quá dốc làm mọi việc trong trại chậm và nguy hiểm hơn.
Không có một hướng hay một độ dốc "chuẩn" dùng chung cho mọi nơi. Ở mỗi vùng núi, gió mùa, mây và hình dạng dãy núi làm cho kết quả khác đi. Bài này đưa ra cách đọc và cách đo để bạn tự đánh giá khu của mình, rồi đối chiếu với số đo khí hậu tại chỗ và kinh nghiệm của người trồng sâm trong vùng.
Hướng sườn thay đổi nắng, nhiệt và độ ẩm thế nào
Ở Việt Nam, nằm ở bắc bán cầu, mặt trời buổi trưa thường lệch về phía nam, nên sườn quay về phía nam và tây nam nhận nhiều nắng trực tiếp hơn, nhất là vào mùa khô. Sườn quay về phía bắc và đông bắc nhận ít nắng gắt hơn. Nắng buổi chiều đến khi không khí đã nóng sẵn, nên sườn hứng nắng chiều thường nóng và khô hơn sườn chỉ đón nắng sáng.
Dưới tán rừng dày, khác biệt này giảm bớt, nhưng không mất. Ở khoảng trống, ở bìa rừng, ở chỗ tán thưa, hướng sườn lại hiện rõ: lá sâm ở sườn hứng nắng chiều có thể héo vào buổi trưa mùa khô trong khi sườn bên kia vẫn tươi. Vì vậy hướng sườn càng quan trọng khi tán của khu không đều.
Hướng sườn còn liên quan tới gió mùa và mây. Sườn đón gió ẩm thường có nhiều sương mù và mưa hơn sườn khuất gió. Nhưng sườn đón gió cũng chịu gió mạnh hơn, dễ quật đổ giàn che và cành cây. Một sườn hợp sâm thường là sườn có được độ ẩm của gió mà không phải đứng ngay trên đường gió.
Hình dạng của chính dãy núi cũng chen vào. Một sườn hướng tốt nhưng nằm khuất sau một ngọn núi lớn hơn có thể mất nắng sớm hơn hẳn vào buổi chiều; một sườn hướng kém nhưng bị dãy bên cạnh che nắng chiều lại mát hơn dự đoán. Bản đồ địa hình cho biết hướng, còn bóng của các đỉnh xung quanh thì phải đứng tại chỗ mới thấy.
Vì những lẽ đó, đừng chọn hướng chỉ dựa trên một quy tắc. Hãy đứng ở khu vào buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều, ghi chỗ nào có nắng xuyên tán, rồi so với số đo nhiệt ẩm tại chỗ.
Đo độ dốc bằng dụng cụ đơn giản
Không cần máy đo đắt tiền. Một cách làm phổ biến với hai cây sào và một thước thủy:
- Chuẩn bị hai cây sào thẳng dài bằng nhau và một thước thủy hoặc ống nước trong có bọt khí.
- Đặt chân một cây sào ở điểm cao, giữ sào nằm ngang hướng xuống dốc, dùng thước thủy chỉnh cho thật ngang.
- Ở đầu kia, dựng cây sào thứ hai thẳng đứng từ mặt đất lên chạm đầu sào ngang, đo khoảng cách từ mặt đất tới điểm chạm.
- Chia khoảng cách thẳng đứng đó cho chiều dài sào ngang, nhân trăm là ra độ dốc theo phần trăm.
- Đo ở nhiều điểm trong mỗi tiểu khu, ghi cùng tọa độ và hướng sườn; độ dốc thường thay đổi nhiều chỉ trong vài chục mét.
Ví dụ giả định: sào ngang dài hai mét, khoảng cách thẳng đứng đo được một mét, độ dốc là năm mươi phần trăm. Nhiều điện thoại có ứng dụng đo nghiêng cũng cho kết quả tham khảo nhanh; nên kiểm chéo với cách thủ công ở vài điểm.
Ghi độ dốc theo phần trăm hay theo độ đều được, nhưng cả hồ sơ phải dùng một kiểu. Trộn hai kiểu là cách nhanh nhất để đọc nhầm một sườn dốc thành sườn thoải.
Độ dốc ảnh hưởng tới ba chuyện của trại
Xói mòn và mất mùn. Sườn càng dốc, nước mưa chảy mặt càng nhanh, càng cuốn đi lớp lá và tầng mùn. Dưới tán rừng nguyên vẹn, lớp lá và rễ giữ đất khá tốt; khi làm luống, làm lối đi, lớp bảo vệ đó bị mở ra và xói bắt đầu. Sườn dốc vừa phải cho phép làm luống theo đường đồng mức mà ít xói hơn.
Thoát nước. Đây là mặt có lợi của dốc: nước không đọng, rễ củ ít bị úng. Sườn quá thoải, gần như bằng, ở chân núi lại dễ đọng nước mùa mưa. Một sườn dốc vừa đủ thường cân bằng được giữa thoát nước và giữ đất.
Đi lại, mang vác và an toàn. Người trực trại phải lên xuống sườn hằng ngày, mang phân, mang cây giống, mang củ khi thu hoạch. Sườn quá dốc làm mỗi việc chậm gấp nhiều lần, tăng nguy cơ trượt ngã, nhất là khi đất ướt. Đây là chi phí ẩn mà người chỉ đi khảo sát vào ngày khô rất dễ đánh giá thấp.
Nước tưới và đường ống. Độ dốc có lợi cho việc dẫn nước tự chảy từ nguồn phía trên xuống, nhưng sườn quá dốc làm áp lực trong ống tăng mạnh ở phía dưới, dễ bục ống, hỏng béc phun. Ngược lại, khu thoải nằm cao hơn nguồn nước thì phải bơm. Khi đo dốc, ghi luôn chênh cao giữa nguồn nước dự kiến và khu trồng để tính trước chuyện này.
Vị trí trên sườn: mỗi chỗ có gì
Ngoài hướng và độ dốc, vị trí trên sườn cũng làm khí hậu và đất khác đi. Bảng dưới tóm lược những khác biệt thường gặp.
| Vị trí | Điểm thuận | Điểm cần cẩn thận |
|---|---|---|
| Gần đỉnh, sống núi | Thoát nước tốt, ít đọng lạnh | Gió mạnh, đất mỏng, khô nhanh khi trời trong |
| Giữa sườn | Thường cân bằng về nhiệt, ẩm, đất | Phải có đường đồng mức để làm luống, lối đi |
| Chân sườn | Đất dày, ẩm, gần nước | Dễ đọng lạnh ban đêm, dễ úng, nhận đất và nước trôi từ trên xuống |
| Lòng khe, thung nhỏ | Kín gió, ẩm | Đọng lạnh, sương muối, lũ quét khi mưa lớn |
| Vai đồi lồi ra | Nhận nhiều ánh sáng, thoáng | Gió quật, khô, dễ bị nắng hắt qua tán thưa |
Trong một khu rừng, phần giữa sườn thường là nơi đáng ưu tiên khảo sát trước. Nhưng đây là xu hướng chung, không phải quy luật: một khe kín gió ở độ cao phù hợp, đất thoát nước tốt và không có dấu hiệu lũ vẫn có thể là chỗ tốt. Số đo tại chỗ mới là câu trả lời.
Dấu hiệu sườn có nguy cơ trượt lở
Vùng núi cao mưa nhiều, nhiều sườn có lịch sử trượt. Khi khảo sát, đi chậm và để ý:
- Vết nứt chạy ngang sườn trên mặt đất, nhất là sau mưa.
- Thân cây nghiêng cùng một chiều, hoặc thân cong hình móc ở gốc: dấu hiệu đất đã từng trượt chậm.
- Bậc đất, gờ đất nhô lên bất thường giữa sườn.
- Mạch nước rỉ ra giữa sườn, nhất là ở chỗ trước đây không có.
- Vết sạt cũ ở ngay phía trên hoặc hai bên khu định trồng, kể cả khi đã có cây mọc lại.
- Đường mòn, ta luy dưới chân sườn thường xuyên bị đất đá lấp vào mùa mưa.
Gặp những dấu hiệu này, đừng lập trại hay làm lán ở sườn đó. Hỏi cán bộ địa phương về bản đồ cảnh báo sạt lở của xã nếu có, và hỏi người bản địa xem sườn đã từng trượt chưa.
Một sườn ổn định trong mùa khô vẫn có thể trượt sau nhiều ngày mưa liền, khi đất đã ngậm no nước. Vì vậy, chuyến khảo sát giữa mùa mưa có ý nghĩa đặc biệt với chuyện sạt: những vết nứt nhỏ, mạch nước rỉ mới, đất mềm lún dưới chân chỉ hiện ra khi đất đã ướt sũng. Người làm trại về sau cũng cần học thuộc những dấu hiệu này để biết lúc nào phải rút khỏi sườn.
Hướng và dốc quyết định cách bố trí luống, giàn và lối đi
Khi đã chọn được sườn, hướng và độ dốc gần như vẽ sẵn cho bạn khung của khu trồng. Luống nên chạy theo đường đồng mức, tức là ngang sườn, để mỗi luống như một bậc giữ nước và giữ đất. Luống chạy dọc dốc biến rãnh giữa hai luống thành đường cho nước mưa lao thẳng xuống, cuốn theo mùn và cả cây non.
Lối đi chính trên sườn dốc nên chạy chéo theo kiểu ziczac thay vì lao thẳng lên đỉnh. Lối chéo dài hơn nhưng an toàn hơn khi mang vác và khi đất ướt, đồng thời không tạo một rãnh nước thẳng từ trên xuống. Lối phụ giữa các luống chỉ cần đủ cho một người đi và đặt chân chắc.
Ở chỗ tán thưa phải bổ sung giàn che, hướng sườn cho biết phía nào cần che kỹ hơn: phía hứng nắng chiều thường cần lớp che dày hơn hoặc thêm vách che bên. Trên sườn dốc, cột giàn phía dưới phải cao hơn phía trên để mái che song song với mặt đất, và chân cột cần được chèn chắc vì đất dốc dễ lún một phía. Thiết kế giàn chi tiết có ở danh mục về mô hình dưới tán rừng và nhà lưới; điều cần nhớ ở bước chọn khu là sườn càng dốc, giàn càng tốn công và càng chịu gió nhiều hơn.
Những sai lầm thường gặp khi chọn hướng và dốc
Sai lầm thứ nhất là chọn sườn đẹp nhìn từ xa. Sườn đón nắng sáng, mở ra thung lũng, có tầm nhìn rộng thường được chọn làm chỗ dựng lán, rồi luống sâm cũng đặt luôn quanh đó cho tiện. Nhưng chỗ đẹp cho người ở không nhất thiết là chỗ tốt cho cây; tách hai chuyện này ra từ đầu.
Sai lầm thứ hai là chỉ đo dốc ở lối mòn. Lối mòn thường đi theo chỗ dễ nhất, còn phần sườn định trồng có thể dốc hơn nhiều. Hãy đi xuyên vào giữa khu, đo ở những điểm sẽ thật sự làm luống.
Sai lầm thứ ba là bỏ qua đường nước từ phía trên. Một sườn có thể tốt, nhưng nếu ngay trên nó là cả một vùng trống, một con đường đất, hay một khu vừa bị khai thác, nước mưa từ đó sẽ dồn xuống. Luôn nhìn ngược lên sườn trước khi quyết định.
Sai lầm thứ tư là chọn khu chỉ bằng ảnh vệ tinh và bản đồ địa hình. Những công cụ đó rất có ích để khoanh vùng trước chuyến đi, cho biết hướng sườn và độ dốc trung bình. Nhưng chúng không cho thấy vết nứt, mạch nước rỉ, lớp mùn hay bóng của ngọn núi bên cạnh lúc ba giờ chiều. Mọi khoanh vùng trên máy đều phải được kiểm lại bằng chân.
Câu hỏi thường gặp
Sườn hướng bắc lúc nào cũng tốt hơn cho sâm phải không?
Không hẳn. Sườn quay về phía bắc thường ít nắng gắt hơn, nhưng có thể lạnh hơn về mùa đông và đón gió mùa đông bắc ở miền Bắc. Hãy đánh giá theo số đo nhiệt ẩm và tình trạng tán của từng khu, không chỉ theo hướng.
Độ dốc bao nhiêu thì không nên trồng sâm?
Không có một con số chung, vì còn tuỳ đất, tán rừng và cách làm luống. Nguyên tắc là sườn dốc tới mức người không đứng vững khi đất ướt, hoặc phải đào đắp nhiều mới làm được luống, thì rủi ro xói và tai nạn rất cao. Nên hỏi tài liệu khuyến nông địa phương về giới hạn khuyến cáo.
Có thể làm bậc thang để trồng sâm trên sườn quá dốc không?
Làm bậc trên đất rừng là đào đắp lớn, phá tầng mùn và có thể vi phạm quy định quản lý rừng. Trên sườn dốc, cách thường dùng là luống ngắn theo đường đồng mức với can thiệp nhẹ. Nếu một khu cần đào đắp lớn mới trồng được, đó là dấu hiệu nên chọn khu khác.
Đo độ dốc bằng điện thoại có đủ chính xác không?
Đủ để khảo sát sơ bộ nếu đặt điện thoại trên một thanh thẳng dài áp sát mặt đất, không đặt trực tiếp lên mặt đất gồ ghề. Nên kiểm chéo với cách dùng sào và thước thủy ở vài điểm để biết sai số của máy mình.
Có nên đặt lán ở đỉnh đồi để dễ quan sát cả trại không?
Đỉnh đồi dễ quan sát nhưng gió mạnh, xa nước và có thể bị sét đánh khi dông. Nhiều trại đặt lán ở chỗ thoải, kín gió, gần nước, rồi bố trí điểm quan sát riêng. Việc đặt lán được bàn kỹ trong bài quy hoạch mặt bằng trại.