Chi phí che bóng cho trại sâm nên được tính trên cả chu kỳ nhiều năm của cây, không tính theo năm đầu: nhà lưới tốn nhiều vật tư và công dựng ban đầu, cộng thêm các lần thay lưới, sửa giàn; trại dưới tán rừng tốn ít vật tư hơn nhưng nhiều công phát dọn, làm luống thủ công, đi lại và bảo vệ lô rải rác. So hai mô hình bằng chi phí năm đầu gần như luôn dẫn tới kết luận sai.
Bài này không nêu giá vật tư hay giá thuê rừng, vì giá thay đổi theo thời điểm, vùng và nguồn hàng. Bài liệt kê các khoản cấu thành, chỉ cách tính khấu hao bằng ví dụ giả định với đơn vị quy ước, và những chi phí hay bị bỏ sót khi lập trại trên núi. Trồng sâm là việc có chu kỳ dài, rủi ro thật và không có gì bảo đảm lợi nhuận; bài không hứa hẹn thu nhập.
Vì sao phải tính chi phí trên cả chu kỳ
Một lô sâm chi Panax nằm trên đất nhiều năm trước khi tới tuổi thu hoạch. Trong khoảng thời gian đó, lưới che có thể hết tuổi thọ và phải thay, cột tre mục và phải thay, dây cáp gỉ và phải căng lại. Nếu chỉ tính chi phí dựng ban đầu, nhà lưới trông như một khoản đầu tư một lần; thật ra nó là một chuỗi chi phí lặp lại suốt chu kỳ.
Trại dưới tán rừng thì ngược lại: chi phí vật tư ban đầu thấp, nhưng công lao động trải đều mỗi năm, không ít đi bao nhiêu. Phát dọn lại lối đi, che bổ sung chỗ tán thủng, đi kiểm lô rải rác trong rừng, bảo vệ những lô xa lán trại. Những khoản này hay bị bỏ qua vì không có hoá đơn mua hàng, nhưng tính bằng ngày công thì không nhỏ.
Vì vậy, cách so đúng là cộng tất cả các khoản cho mỗi mô hình trên cùng một khoảng thời gian bằng chu kỳ sâm dự kiến, rồi chia cho cùng một đơn vị so sánh, chẳng hạn chi phí che bóng cho mỗi luống hoặc mỗi đơn vị diện tích trồng mỗi năm.
Các khoản cấu thành chi phí nhà lưới
Bảng liệt kê các khoản thường gặp. Không phải trại nào cũng có đủ các khoản; mục tiêu là không bỏ sót khi lập dự toán.
| Nhóm | Khoản cấu thành | Ghi chú |
|---|---|---|
| Vật tư khung | Cột, neo, dây cáp, dây thép, tăng đơ, kẹp, phụ kiện nối | Chọn vật liệu theo tuổi thọ so với chu kỳ sâm |
| Vật tư che | Lưới che một hoặc hai lớp, rèm lưới mặt bên, màng che mưa nếu có | Có tuổi thọ ngắn hơn khung, tính số lần thay |
| Vận chuyển | Chở vật tư tới chân núi, mang vác lên khu trại | Trên dốc không có đường xe, công mang vác có thể rất lớn |
| Công dựng | Đo đạc, đóng cột, đặt neo, căng dây, trải lưới | Tính theo ngày công của đội, kể cả người có kinh nghiệm hướng dẫn |
| Hạ tầng đi kèm | Rãnh thoát nước, lối đi có bậc, hệ tưới, bể chứa nước | Nhà lưới cần nước chủ động nhiều hơn trại dưới tán |
| Bảo trì định kỳ | Căng lại dây, vá lưới, gạt lá, thay cột mục | Tính theo năm, tăng dần khi vật tư cũ đi |
| Sửa chữa sau thiên tai | Thay lưới rách, dựng lại khối giàn sập | Nên để dự phòng, không thể đoán trước |
| Thay thế cuối tuổi thọ | Thay lưới, màng, dây khi hết hạn | Có thể rơi vào giữa chu kỳ cây |
| Tháo dỡ cuối chu kỳ | Tháo giàn, thu gom lưới cũ mang xuống núi | Hay bị quên khi lập dự toán |
Dòng vận chuyển và công dựng trên núi thường làm người mới bất ngờ nhất. Một cuộn lưới hay một bó cột ở chân núi và ở giữa sườn núi là hai mức chi phí rất khác nhau.
Các khoản cấu thành chi phí trại dưới tán rừng
Trại dưới tán có ít vật tư hơn nhưng nhiều khoản công và quan hệ. Danh sách dưới đây giúp không đánh giá thấp mô hình này.
- Khảo sát và đo đạc: đi rừng chọn mảng, đo độ che, bới đất, đánh dấu lô; thường mất nhiều ngày công hơn ở khu trống.
- Chi phí theo hình thức sử dụng rừng: tiền thuê môi trường rừng, phần chia cho chủ rừng hoặc cộng đồng theo thoả thuận liên kết, nếu có.
- Phát dọn và làm luống thủ công: trong rừng hầu như không dùng được máy, mỗi luống đều làm bằng tay.
- Lối đi và hạ tầng nhẹ: mở lối, làm bậc ở chỗ dốc, lán trại tạm, chỗ để dụng cụ.
- Che bổ sung: lưới nhỏ, khung tre cho những chỗ tán thủng, thay khi hỏng.
- Đi lại và chăm sóc lô rải rác: thời gian di chuyển giữa các lô trong rừng là công không tạo ra luống mới nhưng vẫn phải trả.
- Bảo vệ: canh giữ lô ở xa lán, đặc biệt khi cây gần tuổi thu hoạch.
- Phòng cháy rừng: phần trách nhiệm của trại trong phương án phòng cháy chung với chủ rừng.
- Hồ sơ và thủ tục: thời gian làm việc với chủ rừng, cơ quan quản lý, giữ hồ sơ lô.
Khi so với nhà lưới, đừng quên trại dưới tán thường có mật độ cây thấp hơn trên cùng diện tích, nên chi phí tính trên mỗi cây có thể khác hẳn chi phí tính trên mỗi đơn vị diện tích.
Tính khấu hao theo tuổi thọ vật tư: ví dụ giả định
Khấu hao là cách chia chi phí của một món vật tư dùng nhiều năm ra từng năm sử dụng. Với trại sâm, điều quan trọng là so tuổi thọ của từng nhóm vật tư với chu kỳ cây để biết sẽ phải thay bao nhiêu lần.
Ví dụ giả định, dùng đơn vị quy ước thay cho tiền thật: một khối nhà lưới có phần khung tốn 600 đơn vị, dự kiến dùng được 12 năm; phần lưới hai lớp tốn 200 đơn vị, dự kiến dùng được 4 năm; công dựng ban đầu 150 đơn vị. Giả sử chu kỳ trồng của lô là 8 năm. Trong 8 năm đó, khung chưa hết tuổi thọ, nên phần khung tính cho chu kỳ này là 600 chia 12 nhân 8, bằng 400 đơn vị; phần còn lại của khung dùng tiếp cho chu kỳ sau nếu không bị hư hại. Lưới phải dùng hai bộ, tức 400 đơn vị, cộng công thay lưới một lần, giả định 50 đơn vị.
Cộng lại, chi phí che bóng của khối này cho một chu kỳ, chưa tính bảo trì và sửa chữa, là 400 cộng 400 cộng 150 cộng 50, bằng 1.000 đơn vị, tức trung bình 125 đơn vị mỗi năm. Con số này mới cho bạn so sánh có ý nghĩa với trại dưới tán, nơi bạn cũng cộng đủ công phát dọn, che bổ sung, đi lại và bảo vệ trong 8 năm rồi chia đều.
Các con số trên chỉ để minh hoạ cách tính. Tuổi thọ thật của khung và lưới phụ thuộc vật liệu, khí hậu và cách bảo trì; chu kỳ trồng phụ thuộc loài và mục tiêu của trại. Hãy thay bằng số của chính trại bạn và cập nhật khi có kinh nghiệm thực tế.
Những chi phí ẩn khi lập trại trên núi
Đường vào mùa mưa. Đường đất trơn, sạt, có khi không đi được nhiều ngày. Vật tư phải mang vác thay vì chở, công tăng lên, có khi phải chờ, kéo dài thời gian dựng.
Hao hụt vật tư. Cột cong, lưới rách khi vận chuyển, dây thép cắt dư. Nên dự trù một phần hao hụt và một phần vật tư dự phòng để vá, sửa.
Sửa chữa sau giông bão. Không năm nào giống năm nào, nhưng cũng hiếm có năm không có gì phải sửa. Một khoản dự phòng cho thời tiết là cần thiết.
Thời gian của người quản lý. Giám sát đội dựng giàn, làm việc với chủ rừng, giữ sổ sách đều tốn thời gian của người chủ trại, khoản thường không được tính.
Lán trại và sinh hoạt. Đội làm trên núi cần chỗ ở, nước, đồ ăn, thuốc men cơ bản, đồ ấm. Ở trại xa khu dân cư, đây là khoản đáng kể.
Tháo dỡ và dọn dẹp. Cuối chu kỳ hoặc khi bỏ một khối giàn, việc tháo dỡ và mang vật tư cũ xuống núi cũng tốn công như khi mang lên.
Dòng tiền: chi trước nhiều năm, thu muộn
Điểm khác biệt lớn nhất của trại sâm so với nhiều cây trồng khác là khoảng cách giữa lúc chi và lúc có thể thu. Phần lớn chi phí che bóng rơi vào những năm đầu, trong khi củ sâm chỉ thu được sau nhiều năm và còn phụ thuộc vào tỷ lệ cây sống, sâu bệnh, thời tiết và rủi ro mất trộm. Trong khoảng thời gian chờ đó, trại vẫn phải trả công, bảo trì và có thể thay lưới.
Vì vậy, kế hoạch tài chính của trại nên vẽ dòng tiền theo từng năm chứ không chỉ một con số tổng. Nhìn vào dòng tiền, bạn biết năm nào cần nhiều tiền nhất, năm nào phải thay lưới, và nếu một trận gió lốc làm sập một khối giàn thì trại có đủ dự phòng để dựng lại không. Lập trại theo từng giai đoạn, mỗi năm mở thêm một số lô, giúp dàn chi phí ra và học được từ những lô đầu.
Nguồn vốn, vay vốn và liên kết tài chính thuộc các chủ đề kinh tế nông thôn nằm ngoài phạm vi trang này. Ở đây chỉ nhắc một điều: đừng dựng toàn bộ nhà lưới cho cả trại bằng nguồn tiền mà bạn có thể cần lại trong vài năm tới.
Câu hỏi cần trả lời trước khi chọn mô hình theo chi phí
Trước khi quyết định dựa trên chi phí, hãy viết câu trả lời cho từng câu sau vào kế hoạch trại.
- Chu kỳ trồng dự kiến của lô là bao nhiêu năm, và trại được sử dụng khu đất trong bao lâu?
- Tuổi thọ thực tế của từng loại vật tư ở điều kiện khí hậu trại là bao nhiêu, theo nhà cung cấp và theo trại lân cận?
- Sẽ phải thay lưới, thay cột bao nhiêu lần trong một chu kỳ?
- Công vận chuyển vật tư từ chân núi lên khu trại tính thế nào, trong mùa khô và mùa mưa?
- Với trại dưới tán, có bao nhiêu ngày công mỗi năm cho phát dọn, che bổ sung, đi lại và bảo vệ?
- Mật độ cây trên mỗi đơn vị diện tích ở mỗi mô hình khác nhau thế nào, và chi phí tính trên mỗi cây là bao nhiêu?
- Khoản dự phòng cho thiên tai và sửa chữa là bao nhiêu phần của tổng chi phí?
- Nếu một năm không có thu nhập từ trại, trại có trụ được không?
Trả lời đủ những câu này thường làm lộ ra rằng câu hỏi "mô hình nào rẻ hơn" không có đáp án chung. Đáp án nằm ở khu đất cụ thể, thời gian sử dụng đất và sức chịu đựng tài chính của chính trại.
Câu hỏi thường gặp
Nhà lưới có luôn đắt hơn trại dưới tán rừng không?
Không hẳn. Nhà lưới tốn vật tư hơn, nhưng trại dưới tán tốn nhiều công lao động, chi phí đi lại và bảo vệ lô rải rác. Khi cộng đủ các khoản trên cả chu kỳ và chia theo số cây, kết quả có thể khác nhiều tuỳ khu đất.
Có bảng giá chuẩn để dự toán nhà lưới trồng sâm không?
Không có bảng giá chuẩn dùng chung, vì giá vật tư, công và vận chuyển thay đổi theo thời điểm và vùng. Cách làm là lập danh mục khoản cấu thành như trong bài, xin báo giá từ vài nguồn, và hỏi các trại cùng vùng về công vận chuyển, công dựng thực tế.
Có nên mua lưới rẻ để tiết kiệm vốn ban đầu không?
Lưới rẻ thường có tuổi thọ ngắn hơn. Trên chu kỳ nhiều năm, phải thay nhiều lần hơn, mỗi lần tốn thêm vận chuyển và công. Hãy tính chi phí cả chu kỳ của từng loại lưới trước khi chọn.
Chi phí thuê môi trường rừng có tính vào chi phí che bóng không?
Tuỳ cách bạn lập sổ. Nhiều trại để chi phí sử dụng đất rừng thành một khoản riêng. Khi so với nhà lưới trên đất khác, nhớ cộng cả chi phí sử dụng đất của mỗi bên để so cho công bằng.
Bảo hiểm có giúp gì với chi phí sửa chữa sau thiên tai không?
Bảo hiểm nông nghiệp có thể giúp giảm thiệt hại nếu trại tham gia và đáp ứng điều kiện của chương trình. Phạm vi bảo hiểm, điều kiện và mức bồi thường cần hỏi trực tiếp đơn vị cung cấp, kiểm quy định hiện hành. Dù có bảo hiểm, trại vẫn nên có khoản dự phòng riêng.
Làm sao giảm chi phí vận chuyển vật tư lên núi?
Chọn vật liệu nhẹ cho những khu xa đường, gom vận chuyển vào mùa khô khi đường dễ đi, đặt kho trung chuyển ở điểm cuối đường xe, và lập kế hoạch dựng giàn theo giai đoạn để không phải vận chuyển gấp. Thuê người địa phương quen đường thường hiệu quả hơn.