Đốm lá và cháy lá trên sâm là nhóm bệnh nấm phát mạnh khi lá ướt nhiều giờ liền, nên cách phòng hiệu quả nhất là làm cho lá khô nhanh: tán che thông thoáng, giàn không dột, luống không quá dày và dọn sạch xác lá, thân lụi mang mầm bệnh qua mùa. Thuốc bảo vệ thực vật chỉ là lớp cuối, dùng khi đã có khuyến cáo phù hợp.
Bộ lá là “nhà máy” của cây sâm trong một mùa ngắn mỗi năm. Mất lá sớm một tháng nghĩa là củ năm đó lớn ít hơn, và vì sâm cần nhiều năm mới tới tuổi thu, những mùa mất lá cộng lại thành khoảng chênh đáng kể giữa trại giữ lá tốt và trại để bệnh lá lan.
Phân biệt các vết bệnh thường gặp trên lá sâm
Các vết bệnh trên lá sâm dễ lẫn vào nhau, nhất là khi đã lan rộng. Bảng sau giúp phân biệt ở giai đoạn sớm, lúc dấu hiệu còn rõ nét:
| Kiểu vết | Hình dạng ban đầu | Khi bệnh nặng | Chỗ hay bắt đầu |
|---|---|---|---|
| Đốm lá | Chấm nhỏ màu nâu nhạt, có khi có quầng vàng quanh viền | Đốm to, nối nhau, lá thủng hoặc rụng | Lá tầng dưới, lá sát mặt luống |
| Cháy lá | Vệt khô màu nâu từ chóp hoặc mép lá | Cả lá chét khô như bị nướng, cuống còn xanh | Chỗ giọt nước đọng ở chóp lá |
| Thán thư | Vết lõm nâu sẫm, đôi khi có vòng đồng tâm | Lan xuống cuống, thân, làm chùm quả khô đen | Lá và quả ở chỗ ẩm, ít gió |
| Mốc xám | Vết thối mềm, ướt | Phủ lớp mốc xám tro, bụi bay khi chạm vào | Chỗ lá, hoa, quả chạm nhau |
| Úng lạnh, sương muối (không phải bệnh) | Lá non thâm đen, mọng nước sau một đêm rét | Khô quắt, không lan thêm | Đồng loạt cả lô, phía hứng gió lạnh |
Một cách thử đơn giản là theo dõi vài lá đã đánh dấu trong ba, bốn ngày. Bệnh nấm sẽ có vết to dần hoặc vết mới xuất hiện quanh vết cũ; tổn thương do rét hay do cơ học thì đứng yên. Khi không chắc, ảnh chụp liên tiếp cùng một lá là tư liệu rất có ích cho cán bộ kỹ thuật.
Vì sao lá sâm dễ bị nấm hơn nhiều cây trồng khác
Lá sâm mỏng, mặt lá rộng, mọc trên một thân duy nhất và hướng ra ngang để đón ánh sáng tản xạ dưới tán. Hình dạng đó tối ưu cho việc bắt ánh sáng yếu, nhưng cũng khiến nước mưa và hơi sương đọng lại lâu trên mặt lá. Bào tử nấm cần một màng nước mỏng trong nhiều giờ mới nảy mầm và xâm nhập được, và lá sâm dưới tán ẩm thường cung cấp đúng điều kiện đó.
Vùng núi cao trồng sâm lại có nhiều ngày sương mù, mây sà thấp, độ ẩm không khí cao kéo dài. Trong những tuần như vậy, lá có thể không khô hoàn toàn từ sáng tới tối. Nếu thêm giàn che dột ở vài chỗ, nước nhỏ giọt liên tục xuống cùng một khoảng luống, chỗ đó gần như chắc chắn thành ổ bệnh đầu tiên của lô.
Yếu tố thứ ba là nước bắn từ mặt đất. Nhiều loại nấm gây bệnh lá tồn tại trong xác lá mục trên mặt luống. Mỗi hạt mưa rơi xuống đất trần bắn lên mang theo bào tử bám vào lá tầng dưới. Vì thế đốm lá thường bắt đầu từ những lá thấp nhất, sát mặt luống, rồi mới leo dần lên trên.
Giữ tán thông thoáng mà vẫn đủ bóng
Dưới tán rừng. Tán quá dày, cây bụi tầng dưới mọc kín khiến không khí trong lô gần như đứng yên. Việc phát quang nhẹ cây bụi tầng thấp và tỉa cành theo đúng quy định với chủ rừng giúp gió lùa qua luống, lá khô nhanh hơn sau mưa. Không được chặt cây rừng để mở bóng; mọi việc tác động lên rừng phải trong phạm vi thoả thuận và quy định cho phép.
Trong nhà lưới, giàn che. Kiểm tra giàn trước mùa mưa: chỗ lưới võng, chỗ mái tụ nước, chỗ hai tấm lưới nối nhau thường dột thành giọt. Đánh dấu những điểm dột trong lần đi kiểm sau trận mưa đầu mùa để sửa trước khi mưa dầm kéo tới.
Mật độ trên luống. Cây trồng quá sát thì lá các cây chồng lên nhau, lớp lá dưới gần như không bao giờ khô. Khi lập lô, khoảng cách cây nên theo hướng dẫn kỹ thuật của vùng; với lô đã trồng dày, việc tỉa thưa đúng lúc giúp cả lô bớt bệnh.
Lối đi giữa các luống. Lối đi thông thoáng không chỉ để người chăm qua lại mà còn là đường thoát ẩm. Cỏ mọc kín lối đi giữ ẩm sát mặt đất và làm chân người dính nước, mang bào tử từ luống này sang luống khác.
Thời điểm tưới. Ở vùng có mùa khô cần tưới bổ sung, tưới sớm trong ngày để lá kịp khô trước đêm. Tưới chiều muộn khiến lá ướt suốt đêm, đúng khung giờ mát ẩm mà nấm thích nhất.
Nguồn bệnh qua mùa: xác lá và thân lụi trên luống
Nhiều loại nấm gây bệnh lá không biến mất khi cây lụi thân vào mùa ngủ. Chúng nằm lại trong lá rụng, thân khô, quả hỏng còn sót trên mặt luống, chờ mùa mầm mới. Khi những mầm non đầu tiên nhú lên, gặp mưa xuân, bào tử từ đống xác cũ bắn lên và vòng bệnh mới bắt đầu, có khi ngay trên những lá non nhất.
Vì vậy, dọn luống khi cây lụi thân là việc phòng bệnh lá quan trọng nhất trong năm, dù lúc đó trên luống không còn gì để nhìn. Thân lụi, lá bệnh, quả thối nên được gom đi, không vùi tại chỗ, không đắp lên luống làm lớp phủ. Lớp phủ luống nên dùng vật liệu sạch, chưa từng nằm trên lô bệnh.
Một chi tiết thực tế là việc dọn luống phải làm nhẹ tay. Mùa ngủ là lúc mầm năm sau đang nằm ngay dưới mặt đất, ở đầu thân rễ. Cào mạnh hay xới sâu có thể làm gãy mầm hoặc gây vết thương cho củ, tạo đường cho bệnh thối củ. Người dọn nên dùng tay hoặc dụng cụ nhỏ, gom phần trên mặt luống, không đụng vào lớp đất bao quanh củ.
Khi bệnh lá đã xuất hiện trong lô
Khi đã thấy vết bệnh, mục tiêu là giữ cho số lá bệnh không tăng và không để ổ bệnh lan sang luống bên cạnh. Trình tự nên làm:
- Khoanh vùng: xác định luống nào có lá bệnh, mức độ nhiều hay ít, đánh dấu bằng cọc.
- Ngắt lá chét bệnh bằng tay đã đeo găng hoặc kéo sạch, cho vào túi kín ngay tại chỗ, không để rơi xuống luống.
- Đi kiểm các luống lành trước, luống bệnh sau cùng; rửa và khử trùng găng, kéo, giày khi rời luống bệnh.
- Kiểm lại giàn che, tán che phía trên ổ bệnh: thường sẽ tìm thấy chỗ dột hoặc chỗ không khí bí.
- Ghi nhật ký số lá, số cây bệnh và thời tiết; so sánh sau ba đến năm ngày để biết bệnh đang dừng hay lan.
- Nếu bệnh vẫn lan dù đã vệ sinh, mời cán bộ bảo vệ thực vật xem trực tiếp để quyết định có dùng thuốc hay không, dùng loại nào phù hợp với cây dược liệu và với yêu cầu thực hành tốt của trại.
Với cây dược liệu, mọi lần dùng thuốc đều phải ghi lại tên hoạt chất, ngày dùng, lô dùng và thời gian cách ly theo nhãn, vì đó là phần hồ sơ người mua và đơn vị chứng nhận sẽ hỏi tới khi xem nguồn gốc củ.
Cây khoẻ giữ lá tốt hơn: bóng, phân và sức cây
Cùng một mùa mưa, trong cùng một trại, có lô gần như sạch bệnh lá và có lô bệnh rải khắp. Ngoài chuyện thông thoáng, khác biệt thường nằm ở sức cây. Cây đủ sáng tản xạ, rễ khoẻ, lá dày vừa phải chống chịu tốt hơn cây yếu, lá mỏng, mọc vươn vì thiếu sáng. Che quá tối vì sợ nắng cũng là một cách làm cây dễ bệnh, chỉ chậm hơn mà thôi.
Phân bón là con dao hai lưỡi. Bón thừa đạm, nhất là dạng tan nhanh, làm lá xanh đậm, to và mềm trong vài tuần, trông rất đẹp mắt, nhưng mô lá mềm lại là thứ nấm dễ xâm nhập nhất. Nhiều tài liệu kỹ thuật cho cây dược liệu dưới tán đều khuyên đi theo hướng hữu cơ hoai mục, bón vừa phải, chia nhỏ, thay vì dồn một lượng lớn phân tan nhanh vào đầu mùa. Liều cụ thể nên theo hướng dẫn khuyến nông của vùng và kết quả phân tích đất.
Một yếu tố hay bị bỏ qua là tổn thương nhỏ trên lá. Lá cọ vào lưới, vào cọc, vào áo mưa của người đi chăm, lá bị sên gặm, bị côn trùng chích, đều có những vết hở nhỏ. Bào tử nấm vào qua vết hở dễ hơn qua mặt lá lành. Lối đi đủ rộng, người chăm đi đúng lối, kiểm soát sên và côn trùng ăn lá vì thế cũng là một phần của việc phòng bệnh lá, dù nhìn qua tưởng là hai việc khác nhau.
Bệnh lá trên sâm Lai Châu và ở các sườn núi khác nhau
Sâm Lai Châu trồng ở vùng núi cao Tây Bắc có mùa đông lạnh và khô hơn, mùa mưa tập trung vào khoảng hè thu. Bệnh lá trên sâm Lai Châu vì vậy thường tập trung vào giữa mùa mưa, khi lá đã xoè đủ và mưa dầm kéo dài. Đầu mùa xuân, mầm non nhú lên trong thời tiết còn lạnh, nguy cơ rét hại lớn hơn nguy cơ nấm lá.
Ở khối núi Ngọc Linh, hai sườn núi chịu hai chế độ mưa khác nhau. Phía đông, vùng Nam Trà My cũ nay thuộc TP Đà Nẵng, nhận mưa nhiều vào cuối năm; phía tây, vùng Đắk Glei và Tu Mơ Rông cũ nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi, có mùa mưa theo nhịp Tây Nguyên. Thời điểm bệnh lá cao điểm ở hai sườn vì thế không nhất thiết trùng nhau. Bạn nên lấy lịch mưa của chính khu trại mình, ghi qua vài năm, thay vì chép lịch phòng bệnh của một trại ở sườn bên kia.
Với tam thất trồng ở vùng cao phía Bắc, người trồng cũng gặp nhóm bệnh lá tương tự vào giữa mùa mưa, và kinh nghiệm chung của các vùng là như nhau: bệnh lá theo mưa, theo sương, theo độ bí của tán. Điều khác nhau giữa các vùng chỉ là thời điểm, nên lịch theo dõi phải dựa vào số liệu của nơi mình đứng.
Trong cùng một trại, lô ở chỗ trũng, gần suối, hướng ít nắng sớm thường bệnh lá nặng hơn lô ở chỗ cao, thoáng. Ghi chép theo lô qua vài mùa sẽ cho bạn một bản đồ rủi ro riêng của trại, giúp dồn công kiểm tra vào đúng những lô hay có vấn đề nhất.
Câu hỏi thường gặp
Lá sâm bị đốm nâu có phải nhổ cả cây không?
Thường là không. Với bệnh lá ở mức nhẹ, ngắt bỏ lá chét bệnh và cải thiện độ thông thoáng là đủ, cây vẫn giữ được phần lá còn lại. Chỉ nhổ cây khi thân đã thối gục hoặc khi cán bộ kỹ thuật xác định có bệnh ở gốc, ở củ.
Cây sâm rụng hết lá giữa mùa thì năm sau có mọc lại không?
Nếu củ và mầm ở đầu thân rễ còn khoẻ, năm sau cây thường vẫn nhú mầm mới. Tuy vậy, mùa mất lá sớm làm củ tích luỹ ít, cây năm sau có thể yếu hơn. Nên kiểm gốc của những cây này khi dọn luống để chắc củ không bị thối.
Có thể dùng chế phẩm sinh học thay thuốc hoá học cho bệnh lá không?
Một số chế phẩm vi sinh được dùng trong phòng bệnh cây trồng nói chung, nhưng hiệu quả trên sâm phụ thuộc loại bệnh và điều kiện từng trại. Trước khi dùng, bạn nên hỏi cán bộ bảo vệ thực vật và chỉ dùng sản phẩm được phép lưu hành, ghi chép như mọi lần dùng thuốc khác.
Lá bệnh ngắt ra nên xử lý ở đâu?
Gom vào túi kín, mang ra khu xử lý riêng cách xa luống trồng và nguồn nước, có thể chôn sâu hoặc ủ ở khu riêng theo hướng dẫn kỹ thuật. Không vứt dọc lối đi, không ném xuống suối, không đắp lại làm lớp phủ luống.
Bệnh lá có ảnh hưởng tới hạt giống của trại không?
Có. Thán thư và mốc xám có thể làm chùm quả khô đen trước khi chín đỏ, làm giảm số hạt dùng được. Hạt từ cây bệnh nặng cũng không nên dùng làm giống. Cây mẹ lấy hạt nên được chọn ở lô sạch bệnh và theo dõi kỹ suốt mùa quả.